CHUNG QUANH NHỮNG QUYỂN THI

 

CHỮA BẰNG MUỘI ĐÈN BỞI KHẢO QUAN CAO BÁ QUÁT

 

 

 

 

 

Lời Nói Đầu


Thơ văn Cao Bá Quát từng được giảng dạy nhiều năm ở hai bậc Trung học Đệ nhất cấp và Đệ nhị cấp chương tŕnh Hoàng Xuân Hăn.

Phần giới thiệu tiểu sử tác giả, chi tiết “dùng muội đèn chữa bài thi” luôn được nhắc đến một cách thú vị nhưng người ta lại suy diễn một cách vơ đoán rằng họ Cao làm thế chẳng qua v́ thương t́nh những bài văn hay nhưng vi phạm trường qui, c̣n phía người đọc th́ không thể không thừa nhận kiểu suy diễn cẩu thả ấy.

Bài dưới đây nhằm làm rơ “phía khuất của mặt trăng” giúp người đọc có thông tin đầy đủ về một vụ phạm tội có tổ chức.

TG.




Khoa thi Hương ở trường Thừa tháng 8 năm Tân Sửu (Thiệu Trị nguyên niên 1841) có lẽ là khoa xảy nhiều rắc rối đáng kể nhất trong chiều dài lịch sử 845 năm khoa bảng ở nước ta.  Nó rắc rối là v́ có đến hai khảo quan phạm pháp quả tang bị kết án đến mức tử h́nh, mà một trong hai vị khảo quan bất hạnh ấy lại chính là nhân vật độc đáo nức tiếng tài hoa mọi thời:  Cao Bá Quát.  Ông và Phan Nhạ đă dùng muội đèn chữa văn của 24 quyển thi và trong 24 quyển đó có đến 5 quyển được lấy đỗ.

Tại sao hai vị Cao, Phan phải chữa quyển thi bằng muội đèn?

Nguyên khi tiến trường, ngoài những ǵ được nhà nước trang bị sẵn, các khảo quan chỉ được phép mang theo chút ít vật dụng cá nhân cùng một người hầu vặt.  Suốt thời gian chấm thi, thầy tṛ họ sống trong một gian hộ khép kín, mọi sinh hoạt đều giải quyết tại đó, mỗi khảo quan cùng tiểu đồng của ḿnh chỉ được phép liên lạc với bên ngoài qua một ô cửa ṭ ṿ chuyên dùng cho việc trao thức ăn và đồ uống, tuyệt đối cấm trao đổi tin tức, chuyện tṛ (việc cấm đoán ấy có lần đă gây nên vụ án... cười ra nước mắt:  Số là do tên lính đi phân phát thức ăn đếm nhầm sao đó nên cuối cùng c̣n thừa lại... một con tôm kho.  Y không dám "trao đổi tin tức" với ai nên chẳng thể nào biết ḿnh đă phát thiếu cho khảo quan nào, cố nhớ măi cũng không ra, đành phải đem về nộp lại cho... quốc gia!  Chuyện đến tai quan trên, thế là nhiều quan khác phải giật thót khi bị quan giám sát thường vụ vạch ra rằng chính họ mang không ít tội danh có liên quan ít nhiều đến... chú tôm kho "lắm chuyện" nọ, thế là họ bị khiển trách, c̣n tên lính nộp lại chú tôm kho th́ bị phạt roi về tội sơ suất phận sự, viên khảo quan âm thầm chịu thiệt tḥi kia (do không phản ảnh số tôm kho phát không đủ số lượng như ghi trong thực đơn) cũng bị phạt bổng về tội dung túng hành vi sai trái của cấp dưới tạo ra sự lơi lỏng phép nước).

Quan giám sát trường vụ càng thực hiện nghiêm ngặt nội quy ấy càng dễ "giữ" được đầu ḿnh lẫn đầu người khác.  Chỉ đến khi yết bảng xong xuôi, các khảo quan mới được... phóng thích.  (Nghe đâu từng có vị khảo quan nọ "thuộc ḍng họ Hoạn" không đành ḷng để vợ đằng đẵng chờ đợi ở nhà hàng tháng trời nên giở diệu kế là bí mật cải trang vợ thành tiểu đồng, thế mà mọi sự vẫn kín nhẹm trót lọt chỉ v́ chế độ "cấm cung" các giám khảo đă khiến cho họ chả ai biết nổi ai đang làm những ǵ!)

Trong gian hộ cách ly ấy, khảo quan chỉ được sử dụng bút nghiên son và bị nghiêm cấm dùng mực.  V́ thế khi cần mực để chữa bài, người ta phải dùng muội đèn tức chất hắc in do khói dầu thải ra.

Trên thực tế, nếu không được ai đó "bật đèn xanh" ngay từ trước th́ dù có sẵn mực trong tay cũng chả một khảo quan nào c̣n đủ khờ khạo để dám tin là sẽ thành công trong việc chữa quyển thi của các thầy khóa, bởi cuối mỗi quyển thi, sĩ tử phải tuân theo một thủ tục muôn đời là nêu rơ các chữ có sự cố, chẳng hạn như toàn bài có bao nhiêu chữ phải đồ (viết đè lên che lấp chữ khác) bao nhiêu chữ phải di (chuyển vị trí) bao nhiêu chữ phải câu (chữ chen thêm) bao nhiêu chữ phải cải (chữ bị chữa nét).  Như vậy, nếu khảo quan đă chữa bài thi tất phải chữa nốt cả phần "cọng quyển nội..." ấy nữa, tức là vô h́nh trung người chữa quyển thi đă "lạy ông con không ở bụi này!" và việc gian lận sẽ bị đám lại pḥng phát hiện ngay từ đầu, chả cần đợi đến Viện Đô sát vào cuộc!  Nói cách khác, dẫu là tài thánh đi nữa cũng không một ai dám chữa bài thi, c̣n đă làm liều th́ kể chắc là sẽ nhận h́nh phạt cao nhất, trừ phi mọi khâu được tổ chức chặt chẽ, có "ô to dù lớn" chở che.

Theo tập quán, vua chúa phong kiến không chỉ cai trị dân chúng mà c̣n cai trị cả quỷ thần (các thần linh chốn đền miếu đều nhận sắc vua ban, và vào các dịp vua đăng quang, các ngày đại khánh tiết trong nước, các thần linh ở mọi miền trong nước cũng được... thăng cấp như các quan chức đáo hạn, đặc ân).  V́ lẽ đó, mỗi khoa thi không phải chỉ là việc các quan trường điều hành đám sĩ tử mà họ c̣n điều hành cả các hồn linh và thừa nhận sự can thiệp... của lực lượng vô h́nh ấy nữa:  Cụ thể là danh sách khảo quan được đề cử phải thông qua "văn thánh" ở văn miếu bằng cách khẩn xin âm dương *.

* Cũng nên biết rằng khi "xin ư kiến thần linh" người ta gieo hai đồng tiền vào ḷng dĩa, nếu thần nhất trí th́ cho 1 âm 1 dương (1 sấp 1 ngữa).  Nếu cả hai đều sấp th́ thánh giận, cả hai đều ngữa là... thánh cười, tiền văng khỏi dĩa là tín chủ chưa đủ ḷng thành, phải nhặt lên, củng cố ḷng thành rồi khẩn lại.  Nếu khẩn đến ba lần mà thánh chưa chứng giám th́ khảo quan được đề cử ấy phải chịu xóa tên, nhưng phía Viện Đô sát th́ vẫn chưa buông, cố săm soi xét nét về lư lịch tam đại, về cuộc sống đời thường để khám phá bằng được nguyên nhân thánh cười ǵ, giận về điều ǵ...

Danh sách người đỗ lại c̣n phải viết bằng mực nhạt để các hồn linh tiện tham gia ư kiến (bằng cách... xóa tên kẻ kém đức!) và sĩ tử phải nhập trường từ giờ Sửu cùng các hồn linh theo nghi thức tuyên xướng:  "Báo ân giả tiên nhập, báo oán giả thứ nhập, sĩ tử thứ thứ nhập!"  (hồn linh báo ơn vào trước, hồn linh báo oán vào kế theo, sau nữa mới đến sĩ tử vào).  Do quan niệm như thế nên kẻ vi phạm quy chế thi cử luôn bị coi là đụng chạm đến chuyện đền ơn báo oán của quỷ thần nên chẳng mong ǵ được phép nước chiếu cố khoan dung.

Khi thẩm vấn ở Bộ Lễ, Cao Bá Quát và Phan Nhạ khai là do sính bút làm càn chứ không có ai dặn ḍ gửi gắm ǵ cả (Đại Nam thực lục tập 23 - trang 345).

Lời thú nhận ấy quả thực không có tí thuyết phục nào (bởi chuyện có lắm dấu hiệu không b́nh thường:   Hai khảo quan ở hai nơi, thế mà bỗng dưng cùng sính bút làm càn, cùng dùng muội đèn chữa bài thi, chuyện tương tự như thế vốn chưa từng xảy ra trong quá khứ mấy trăm năm!).  Thế cho nên Bộ Lễ và Viện Đô sát phải nỗ lực t́m sự thực.  Kết cuộc là Phan Nhạ đă khai ra Cao Bá Quát chủ mưu (tức là vẫn che giấu tên tuổi người chủ mưu thực thụ!)  Cao tuy không phải bị vu khống oan uổng ǵ nhưng vẫn ức lắm nên về sau có viết cho Phan mấy câu khá hằn học:

Bổ quá chi vị hà?
Tội ngă khí dục bính.

(Sửa lỗi là vậy sao?  Trút tội cho người ta tức muốn nghẹn thở)

(Mẫn Hiên thi loại - Di Phan Sinh - Tờ 36b - tập N. VHv 1996)


Cả hai can phạm có lẽ cùng biết rằng nếu cố gắng chịu đựng không khai ra kẻ giật dây th́ mới ḥng khỏi bị ghép thêm tội vu khống bởi nhân vật ấy vốn có thừa quyền miễn trừ, và họ không khai ra th́ "nhận vật" nọ mới rảnh tay khởi động guồng máy chạy tội.  Tuy vẫn biết là thế nhưng vốn tính nhạy cảm, họ Cao quả thật chẳng cam tâm chút nào nên trong cơn tuyệt vọng, ông đă thốt những lời bóng gió đầy cay đắng:

Vô dĩ tây gia ngu,
Cánh hốt đông đạo trịnh.

(Không nên lấy cớ khách ngu, lại bỗng dưng chủ (hóa thành kẻ) đạo mạo).

(Bđd)


Bảo rằng chủ, khách có lẽ Cao Bá Quát muốn kín đáo nhắc đến mối giao t́nh đầy tri kỷ mới nhen nhóm được mấy tháng qua giữa Tùng Thiện Vương với ḿnh.  (Mối giao t́nh tương đắc đầy cách biệt giữa một vị hoàng đệ tài hoa đă tấn phong đến tước Vương với một viên quan nhỏ chỉ mới vừa mang hàm Lục phẩm, quả là điều tương đắc hiếm có trên đời!).  Dựa vào những bài thơ họ xướng họa, tặng đáp, ta biết được là vào thời điểm ấy,  Vương đă lập phủ mới ở hữu ngạn sông Hương c̣n phủ cũ ở tả ngạn, Vương nhường cho sáu viên quan xa quê cư ngụ mà hai người này ăn chung, ở chung, t́nh nghĩa giữa họ khá gắn bó nên Vương rất tin cậy, thường bày tiệc khoản đăi, xướng họa và nhiều lần biếu họ món lạ, rượu quư nữa.

Khi trong phủ ḿnh có sẵn đến hai viên sơ khảo khá ăn ư như thế, bản thân Vương lại là em ruột đồng thanh khí của "đương kim hoàng thượng", tất Vương khó bề tránh khỏi tầm ngắm của bao kẻ cầu cạnh - đấy là thứ hệ lụy tất yếu của lớp người cao danh vọng - Vương chẳng có cách nào thoái thác, và trong cái thế "tây gia" ấy của ḿnh, Cao Bá Quát lại càng khó bề thoái thác hơn nhiều.  Đă thế, việc mới lên ngôi của vua Thiệu Trị cũng là một cớ hấp dẫn tạo niềm lạc quan lẫn chủ quan cho những kẻ liều lĩnh ấy.  Nguyên lệ thường định mức giải ngạch của trường Thừa là 38 suất nhưng đặc biệt khoa ấy nhà vua có chủ ư "rộng ban ân điển" nên giáng chỉ cho phép chọn đến 45 người, tức là gia ân cho vớt thêm 7 người nữa.  Chính v́ thế mà Cao, Phan dám... nhắm mắt đưa chân khi được "ai đó" giao việc.

Mặc khác, cho dù có ư thức cảnh giác cao đến mấy th́ họ Cao cũng khó ḷng khước từ bổn phận "tây gia" của ḿnh.  Phía "đông đạo" th́ rơ ràng là có chủ trương "Dưỡng quân tam niên, dụng chi nhất nhật" (nuôi quân ba năm (để) dùng quân một ngày) c̣n phía "tây gia" th́ đă là kẻ sĩ (lại là danh sĩ nữa!) tất họ Cao không thể không nhập tâm câu châm ngôn "Sĩ vị tri kỷ giả tử, nữ vị tri kỷ giả vong" (kẻ sĩ (sẵn sàng) chết v́ người tri kỷ, người con gái (sẵn sàng) đánh mất ḿnh v́ người tri kỷ).

Theo Đại Nam thực lục th́ t́nh h́nh ấy diễn biến như sau:

Khi chưa ra bảng, quan chủ khảo Bùi Quỹ (Tham tri bộ H́nh) đă gọi Cao Bá Quát ra viết bằng v́ chữ ông này rất tốt (theo quy định th́ việc này chỉ được phép làm khi đă ra bảng.  C̣n chuyện "chữ tốt" ở đây chỉ nhằm bào chữa, v́ đấy là việc ấy đă có các thư thủ cấp quốc gia, giàu thâm niên và đẳng cấp.  Sẵn dịp ấy phân khảo Nguyễn Văn Siêu giữ Cao lại ngủ đêm (chúng tôi nghĩ đây chỉ là những lời khai nhằm đối phó chạy tội và sử gia đành phải "tận dụng" cho đúng phép khi bản thân họ không có quyền điều tra riêng để dùng tư liệu cụ thể nào khác).  Lúc ra bảng, dư luận sĩ tử x́ xào, giám sát trường vụ là Hồ Trọng Tuấn liền tham hặc các vi phạm kể trên rồi hai cơ quan có trách nhiệm - Bộ Lễ và Viện Đô sát - xắn tay áo vào cuộc.  Điều tra xong họ giao qua bộ H́nh định tội.  Bản án được tuyên khá nghiêm khắc:

- Các sơ khảo Cao Bá Quát, Phan Nhạ:   Tử H́nh.

- Phân khảo Nguyễn Văn Siêu:  Phạt trượng, đồ (đánh bằng gậy rồi phạt khổ sai).

- Chủ khảo Bùi Quỹ bị cách chức (Tham tri bộ H́nh)

- Phó khảo Trương Tiến Sĩ bị giáng chức (ông này đang là Biện lư bộ H́nh, sử không chép rơ giáng mấy cấp).

Vua Thiệu Trị (có lẽ nể t́nh nhân vật đứng sau vụ việc?) bèn lấy cớ là mới trị v́ nên cần "rộng ban ơn điển" thành thử đổi hai án tử h́nh nọ ra giảo giam hậu (treo cổ nhưng hoăn thi hành).  Nguyễn Văn Siêu chỉ bị cách chức (khỏi bị phạt trượng), chủ khảo Quỹ và phó khảo Sĩ bị cách lưu (cách chức nhưng vẫn điều hành công việc theo cương vị cũ).  Ngoài ra c̣n có thêm hai khảo quan Phan Văn Nhă và Trương Hảo Hợp bị giáng lưu (hạ bậc lương nhưng vẫn giữ nguyên nhiệm vụ).  Sử không nêu rơ tội trạng của hai viên chức này (rất có khả năng là khảo quan ngoại trường đáp ứng đề xuất lấy đỗ Trương Đăng Trinh!)

Đối với nhân vật "Đông đạo" nọ, họ Cao không chỉ dừng lại ở mức chê trách là "không đàng hoàng" qua bài thơ "Di Phan Sinh" đă nhắc ở trên mà ông c̣n công khai lên án:

Biệt tự cô cao áp ngâm xă,
Khước khan thanh sấu giảm yêu vi.
Tung hoành hàn mặc kim thi bá,
Lang tạ h́nh dung lăo bố y...


(Đứng cao riêng một ḿnh đè giới làm thơ.  Lại xem gầy nhom giảm vong eo.  Ngang dọc bút mực làm thi bá đời nay.  (Khiến cho) h́nh dáng kẻ áo vải già trông nhếch nhác).

Để chuyển tải những lời hài tội đầy ngạo mạn này, họ Cao dùng thủ đoạn "ném đá giấu tay" kể cũng khôn khéo bằng cách bịa chuyện là có ông già nào dấy đến làm thơ hạn vận năm vần vi (Lăo ông lai phú thi hạn ngũ vi vận), c̣n Cao th́ chỉ là kẻ chép lại nguyên văn bài thơ của "lăo ông" nọ mà thôi.

Thẳng tay đến mức này th́ Cao quả đă nghĩ rằng đường công danh của ḿnh như thế là đă đi vào ngơ cụt, ngay đến mạng sống cũng chưa chắc giữ nổi, tóm lại là chẳng c̣n ǵ để mất, thà là mượn một "ông lăo" như thế để trút cho hết cơn ấm ức.  Ông khái quát nhân vật nọ hoàn chỉnh đến thế th́ chả c̣n ai không biết đấy là ai!  May mà bấy giờ báo chí chưa ra đời nên "bài thơ nội bộ" như thế không gây ra... động đất chốn kinh kỳ!

Kể ra người mạt sát lẫn người bị mạt sát đều đáng được cảm thông.  Nào ai ngờ một kế hoạch hợp với "thiên thời, địa lợi, nhân ḥa" như thế lại phá sản thảm hại đến thế?  Nào tử h́nh, nào trượng, đồ, cách, giáng, ập đến như sấm sét không kịp bưng tai!

Chẳng những thế, Cao Bá Quát c̣n gặp thêm điều không may khác nữa, đó là chủ khảo Bùi Quỹ c̣n chính là nhân vật đứng thứ hai của bộ H́nh (chỉ dưới chức Thượng thư) thành thử họ Cao bị đám "chuyên gia" của Bộ ấy tra tấn hơi nặng tay vừa để tỏ tài mẫn cán, vừa nhằm giảm nhẹ tỳ vết cho Bộ và rất có thể là cũng để thỏa măn ư thức kỳ thị, cạnh tranh ngấm ngầm về t́nh trạng sĩ phu Bắc hà đến thời điểm ấy đă bắt đầu nh́n nhận nhà Nguyễn, tấp nập đổ về Huế, chen lấn nhau làm hẹp thêm khung cửa tiến thân của sĩ phu bản địa:

Nam đ́nh vọng tận Bắc đ́nh diêu,
Tục đoạn hành nhân quá bản kiều.

(Ở phía Nam nh́n về hết trạm Bắc xa xa,
Người đi qua cầu ván khi đứt khi nối).

* Cao Bá Quát:   Hương giang tạp vịnh.

 

Dầu sao th́ cảnh tra tấn ở bộ H́nh cũng chả đến nỗi "uốn lưng thịt đổ, dập đầu máu sa" như cảnh xảy ra trong truyện Kiều, nhưng một bậc "danh sĩ đất Tràng An" như Cao Bá Quát, đỗ tú tài từ tuổi mười hai, mỗi bước đi ra là nhận bao lời tán tụng, ngồi vào chiếu rượu nào là đem vinh hạnh đến chiếu đó, gặp trường hợp này Cao thật khó ḷng giữ nổi tinh thần "gặp sao hay vậy" (tùy ngộ nhi an) của đạo người quân tử trước những lời quát nạt, những tiếng đập bàn quát tháo của đám tay chân bộ H́nh nhằm uy hiếp tinh thần, vùi dập sĩ khí mấy nhà trí thức Bắc hà.

Cao Bá Quát hoàn toàn không hiểu rằng cái người - danh giá hàng đầu chốn kinh kỳ ấy - mới kết giao với ông mấy tháng qua đă nỡ bỏ mặc ông "chết đuối trên cạn" như thế, thực ra c̣n lo lắng hơn ông rất nhiều và người đó đă ráo riết vận động hành lang (lobby) đạt được những thành công thật xuất sắc khiến cho vụ án khá ầm ĩ lúc đầu, rốt cuộc chỉ c̣n lại một thủ đoạn khéo léo che chắn tội trạng, xoa dịu dư luận, đến mức những bản án thoạt nghe quá đỗi nặng nề ấy về sau đă được xóa rất lẹ, những chức vụ bị cách, giáng đă được khai phục nhanh chóng (đơn cử trường hợp Nguyễn Văn Siêu - viên phân khảo can thiệp với quan ngoại trường cho Trương Đăng Trinh đỗ thứ 7 - tuy bị cách chức nhưng chỉ ít lâu đă được khai phục rồi được thăng vùn vụt như thể để đền bù thiệt tḥi, chỉ mới 7 năm sau vụ án đă vượt phẩm cấp trước kia đến 5 bậc, lại c̣n được phục hồi danh dự ở mức cao nhất, bằng cách cử làm Ất phó sứ trong sứ đoàn sang Trung Quốc Năm 1848 nữa).  Riêng phần Cao, tuy quá nóng nảy, phát ngôn bừa băi, bất kính đến độ "bất pháp" khó dung, biểu hiện quá đáng trong bài thơ hạn vận! (chế độ phong kiến vốn coi Lễ là nền tảng của đạo làm người nên ngay ở Trung Quốc các ông nghè nổi tiếng như Bạch Cư Dị, Tô Đông Pha, Lưu Vũ Tích... ở thời Đường, Tống của "thiên triều" đều phải cam phận "đi đày trá h́nh" về thứ tội "ngỗ phạm quyền quư) - ngỗ ngược, xúc phạm cấp trên - huống chi là thân phận mấy viên cử nhân trong nước lại dám to gan làm loạn quốc pháp đến mức ấy!).  Thế nhưng họ Cao chỉ bị "đày" - một cách chiếu lệ - vào Đà Nẵng ít lâu (lại được "an trí" ở Ngũ Hành Sơn!) rồi sau đấy th́ "ṭng quân hiệu lực" đi Tân Gia Ba, xong quay về chức Chủ sự như cũ.  Xem ra với một thi nhân như ông, cách xử lư ấy thực t́nh là...  một kiểu rộng ban ân điển hẳn hoi.  Nếu Cao kiềm chế được ḷng tự ái của ḿnh chắc cũng phải thừa nhận ra sự thực là như thế.  Mấy câu thơ dịch theo bài Đề Sát viện Bùi công yến đài anh ngữ khúc hậu cho ta thấy tác dụng của cuộc chế tài ngầm mang tính chất "tạo điều kiện tối ưu" ấy đă khiến Cao phấn khích biết bao:

Tân gia tứ vượt con tàu,
Mới hay vũ trụ một màu bao la.
Giật ḿnh khi ở xó nhà,
Văn chương chữ nghĩa khéo là tṛ chơi!
Không đi khắp bốn phương trời,
Vùi ḿnh án sách uổng đời làm trai...


Nói chung, trừ những cuộc lấy cung hơi nặng tay của những chuyên viên thẩm vấn của bộ H́nh do "chưa hiểu biết sự t́nh" cùng việc giam giữ "che mắt thế gian" ra, những chuyện c̣n lại chỉ thấy Cao Bá Quát toàn được hưởng lợi chứ không phải bị thiệt hại ǵ cho lắm.

 

 

 

 

Giáo Sư Ngô Văn Lại  吳文赖老师  <photo>

Việt Nam, Tháng 9, 2007.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

*** 投稿電郵請寄 ***

Bài vở & h́nh ảnh xin gởi về Ban Phụ Trách KHAIMINH.ORG

 

VanNgheGiaiTri@KhaiMinh.org

 

 

 

 

 

 

Copyright © 2004 – Present  KHAIMINH.ORG  |  Website Disclaimer