春節詩歌選譯  THƠ XUÂN TUYỂN DỊCH

 

 

 

 

 

Dưới đây là 11 bài thơ xuân cổ Trung Hoa do cựu giáo sư  Ngô Văn Lại  吳文賴  ( 9 bài )

và người học tṛ cũ của cụ  Hàn Quốc Trung  韓国忠  ( 2 bài ) tuyển dịch.

 

 

01.

田家元日
  
(唐)孟浩然


昨夜斗回北,今朝岁起东;
我年已强壮,无禄尚忧农。
桑野就耕父,荷锄随牧童;
田家占气候,共说此年丰。



TẾT NHÀ NÔNG

 

Mạnh Hạo Nhiên

 

Đẩu tinh (1) chầu Bắc đêm qua,

Sáng nay năm mới nhô ra chân trời.

Tuổi ta từng khoẻ đấy thôi,

Lộc vua chẳng có (2) tạm thời nông tang.

Thợ cày ta đến nhập đàn,

Vác bưà (3) lẽo đẽo theo đoàn chăn trâu.

Nhà nông nô nức kháo nhau:

- Năm nay nhất định hoa màu trúng to!

 

 

Ngô Văn Lại 吳文赖  dịch và chú thích

Việt Nam, Xuân Mậu

 

Chú thích:

 

Mạnh Hạo Nhiên (689 – 740) thi hỏng, trọn đời làm mạc liêu (tức “sư gia” cho quan) ở Kinh Châu.

 

(1)     Đẩu tinh:  tức sao Bắc Đẩu (cũng gọi là Nam Đẩu) là cḥm sao 6 ngôi, dân gian gọi là sao bánh lái.  Tuỳ chiều quay cuả điạ cầu, “bánh lái” quay chuôi về Bắc vào đêm cuối năm.

(2)     Lộc vua chẳng có:  Tác giả là mạc liêu, hưởng thù lao tuỳ thuộc vào quỷ điạ phương.

(3)     Bừa:  nguyên văn là , chỉ mọi nông cụ có răng dài để làm tơi đất và dọn sạch cỏ (người Việt Nam gọi thành hai loại khác nhau:  bừa chỉ loại lớn, kéo bằng sức trâu ḅ, cuốc, cào chỉ loại nhỏ dùng sức người)

 

 

 

 

 

 

 

 

 

02.

卖痴呆词

(南宋)范成大


除夕更阑人不睡,厌禳钝滞迫新岁;
小儿呼叫走长街,云有痴呆召人卖。


BÁN NGU SI

 

Phạm Thành Đại

 

Thao thức giao thưà đă quá canh,

Ngu đần năm mới trút cho nhanh.

Ngoài đường lũ trẻ reo vang phố,

Rằng: - Có anh đần rao bán… anh.

 

 

Ngô Văn Lại 吳文赖  dịch và chú thích

Việt Nam, Xuân Mậu

 

Chú thích:

 

Phạm Thành Đại (1126 – 1193) là danh thần đời Nam Tống.  Tiếng tăm ông sánh ngang các tác giả lớn như Lục Du, Dương Vạn Lư bấy giờ.

 

Bài thơ này nhắc đến tục vui ngày Tết:  bán dại khờ (sang năm mới, con người khôn ra, v́ vậy có bao nhiêu khờ dại phải bán cho hết sạch trước lúc giao thưà).  Tác giả dí dỏm kể rằng cả đêm trừ tịch vẫn không thấy ai đến mua, đang bấn lên th́ nghe ngoài phố trẻ con reo ḥ rằng có anh ngốc gọi người đến bán cả con người anh, v́ anh ngốc toàn diện ( 身都是呆 ) chứ không phải ngốc một phần như họ Phạm.  (Đấy là tâm lư muôn đời cuả loài người!  Ai cũng cho rằng kẻ khác phải ngốc hơn ḿnh.)

 

 

 

 

 

 

03.

除夜

(唐)来鹄


事关休戚已成空,万里相思一夜中。
愁到晓鸡声绝後,又将憔悴见春风。


ĐÊM TRỪ TỊCH

 

Lai Hộc

 

Buồn vui giờ đă thành không,

Nhớ nhau muôn dặm cũng trong đêm này.

Gà gáy sáng, sầu c̣n đầy,

Gió xuân ve vuốt mặt ai bơ phờ…

 

 

Ngô Văn Lại 吳文赖  dịch và chú thích

Việt Nam, Xuân Mậu

 

Chú thích:

 

Họ và tên tác giả đều quá lạ nhưng tâm trạng tác giả th́ rất quen: Người đời quen coi đêm cuối năm là xí xóa tất cả mọi bận tâm nhưng tục ấy không xua được sự băn khoăn của những tâm trạng… có vấn đề - Mặt khác, người ta cũng tin gió xuân thổi bay mọi buồn phiền, thật ra đấy cũng là tṛ tự nhiên huyễn hoặc mà thôi. Tinh thần lạc quan quá đáng khiến người ta mất khả năng phán đoán, nhưng nhờ vậy mới vui xuân trọn vẹn được.

 

 

 

 

 

 

04.

元日

(宋)王安石


爆竹声中一岁除,春风送暖入屠苏;
千门万户瞳瞳日,总把新桃换旧符。

 

NGUYÊN ĐÁN

 

Vương An Thạch

 

Tiếng pháo xua tan chuyện cả năm,

Đồ tô (1) thu ủ gió xuân nồng.

Nhà nhà rạng rỡ như bừng sáng,

Đào phù (2) cũng mới đổi thay xong.

 

 

Ngô Văn Lại 吳文赖  dịch và chú thích

Việt Nam, Xuân Mậu

 

Chú thích:

 

Vương An Thạch (1021 - 1086) là người lỗi lạc về văn học lẫn chính trị, làm tể tướng đời Tống Thần Tông, tiến hành cuộc đại cải cách gây đụng chạm quyền lợi nhiều đồng liêu nên bị chống đối mạnh mẽ đến mất chức. (Người cầm đầu phe chống đối là Tô Đông Pha (1036 - 1101) Tô bị Vương “cách ly” ra Hoàng Châu nhưng uy danh Tô quá mạnh nên Vương đành chịu thua cuộc.

 

(1)     Đồ tô: Tên riêng dành gọi thứ rượu uống vào dịp Tết.

(2)     Đào phù: Bùa bằng gỗ đào. Người ta dùng ván gỗ đào đóng lên hai bên cửa, vẽ lên đấy hai thần giữ cửa là Thần Đồ và Uất Lũy cùng bùa chú để hai vị ấy xua đuổi tà ma.  Sáng mồng một Tết, người ta bỏ ván cũ, thay ván mới. (Ở Việt Nam hai thần ấy thường chỉ thấy đặt tượng tại cổng Chùa và gọi là ông Thiện, ông Ác).

 

 

 

 

 

 

05.

元日 玉楼春

(宋)毛滂


一年滴尽莲花漏,碧井屠苏沉冻酒。
晓寒料峭尚欺人,春态苗条先到柳。
佳人重劝千长寿,柏叶椒花芬翠袖。
醉乡深处少相知,祇与东君偏故旧。

 

NGÀY XUÂN Ở NGỌC LÂU (1)

 

Mao Bàng

 

Giọt sen (2)  đă điểm hết năm,

Đồ tô ủ lạnh (3) thôi nằm giếng khơi.

Sáng ra rét buốt cả người,

Đón xuân cành liễu nẩy chồi sớm thay!

Giai nhân mừng thọ quá say,

Thướt tha tay áo hương bay (4)  nồng nàn.

Làng say vốn hiếm bạn vàng,

Quanh đi quẩn lại chỉ chàng Đông quân. (5)

 

 

Ngô Văn Lại 吳文赖  dịch và chú thích

Việt Nam, Xuân Mậu

 

Chú thích:

 

  1. Ngọc Lâu: Nơi quy tụ giới tao nhân mặc khách. Ở đây chỉ chung chốn kỷ viện, (nơi quy tụ nhiều người đẹp có thanh sắc, trổ tài múa hát, ca nhạc phục vụ khách sang).
  2. Giọt sen: Đồng hồ buổi đầu tạo h́nh hoa sen lớn chứa đầy nước, giữa có cột ghi giờ, đáy có lỗ ṃ mỉ, mực nước sẽ xác định giờ ở cột.
  3. Đồ tô ủ lạnh: Rượu Tết người ta ủ men bằng cách bịt kín hũ, thả xuống giếng, đến Tết lôi lên. Vi khuẩn tạo rượu vốn thuộc loại yếm khí nên phát huy tác dụng cao, rượu nồng hương hơn.
  4. Tay áo hương bay: Tay áo giới tŕnh diễn ca vũ vốn rộng tối đa, các nàng cất vào đấy các loại hoa lá thơm để thả hương ngây ngất.
  5. Đông quân: Vua cai quản phương Đông. Theo Hà đồ, Phương Đông thuộc mùa xuân, do thanh đế Linh Uy Ngưỡng cai quản, được gọi là Chúa Xuân (dân say cũng thường cho ḿnh là “vua”).

 

 

 

 

 

 

06.

除夜

(南宋)文天祥


乾坤空落落,岁月去堂堂;
末路惊风雨,穷边饱雪霜。
命随年欲尽,身与世俱忘;
无复屠苏梦,挑灯夜未央。

 

ĐÊM TRỪ TỊCH

 

Văn Thiên Tường

 

Vũ Trụ cứ bao la,

Tháng năm cứ đi qua.

Đường cùng ngại mưa gió,

Sương tuyết ngấm đầy da.

Mệnh hết theo năm hết,

Thân cùng thế quên ta (1).

Đồ tô không dám mộng,

Khêu đèn đêm chưa tà (2).

 

 

Ngô Văn Lại 吳文赖  dịch và chú thích

Việt Nam, Xuân Mậu

 

Chú thích:

 

Văn Thiên Trường (1236 – 1283) đỗ Trạng Nguyên năm 1256, làm quan đời Nam Tống, quan chức trầy trật đến năm 1276, người ta “chợt” nhận ra tài năng và ḷng trung nghĩa phi thường của ông, bèn phong ông làm Hữu thừa tướng (như Phó thủ trưởng ngày nay) để cầm đầu phái đoàn đến trại quân Nguyên đàm phán. Quả nhiên ông bị bắt giữ. Ông trốn thoát về bán sạch gia tài lập nghĩa quân chống Nguyên v́ nhà Tống đă bị tiêu diệt.

Vợ con ông bị giặc bắt rồi cuối cùng là ông (1278). Hốt Tất Liệt dụ hàng ông suốt 5 năm. Ông khảng khái đến chết. (hiểu đời ông, ta mới hiểu bài này).

 

(1)   Nguyên văn:  Thân cùng thế đều quên. Ám chỉ cái Trạng Nguyên và Hữu thừa tướng cũng rời ông để chỉ c̣n lại thân thế người tù tuyệt vọng.

(2)   Chưa tà : Nguyên văn:  Chưa đến chỗ giữa (vị ương) ngụ ư chuỗi ngày tàn kéo dài quá lâu, quá khổ ải trước khi ra pháp trường.

 

 

 

 

 

07.

拜年

(明)文征明


不求见面惟通谒,名纸朝来满敝庐。
我亦随人投数纸,世情嫌简不嫌虚。

 

THĂM VIẾNG ĐẦU NĂM

 

Văn Trưng Minh

 

Không cần gặp mặt, gởi thăm suông,

Danh thiếp đầy nhà tự bốn phương.

Ta bắt chước ai trao mấy tấm,

T́nh đời rất sợ bị quên luôn. (*)

 

Ngô Văn Lại 吳文赖  dịch và chú thích

Việt Nam, Xuân Mậu

 

Chú thích:

 

Văn Trưng Minh (1470- 1559) là họa sĩ lớn Đời Minh. Bài thơ này phê phán tục chúc tết bằng danh thiếp, cho là hời hợt, sáo rỗng, thiếu chân t́nh nhưng ông vẫn phải bắt chước v́ không gởi thiệp c̣n bị chê trách hơn.

 

(*) Suy rộng ra, mọi việc làm theo tục lệ đều miễn cưỡng, chiếu lệ, phiền toái, tốn tiền bạc và th́ giờ (đă có người hô hào bỏ tục ăn tết !)

 

 

 

 

 

08.

已酉新正

(明)叶颙


天地风霜尽,乾坤气象和;
历添新岁月,春满旧山河。
梅柳芳容徲,松篁老态多;
屠苏成醉饮,欢笑白云窝。

 

 

NĂM MỚI KỶ DẬU

 

Diệp Ngung

 

Trời đất với sương gió,

Không gian ấm áp ra.

Tháng năm thêm mới mẻ,

Xuân rạng rỡ sơn hà.

Mai liễu thêm mơn mởn,

Trúc tùng già dặn xa.

Đồ tô làm say khướt,

Cười vui khắp mọi nhà. (*)

 

Ngô Văn Lại 吳文赖  dịch và chú thích

Việt Nam, Xuân Mậu

 

Chú thích:

 

Chưa thấy tư liệu về tác giả Diệp Ngung ngoài chi tiết ông sống vào đời Minh (1368-1643)

 

(*) Mọi nhà : Nguyên văn “Bạch Văn Oa” ( nhà mây trắng) có lẽ chỉ nhà của tác giả ( người dịch nghĩ là ở vị trí cao, v́ vậy quy tụ cả đại gia đ́nh nên mạnh dạn dịch “ Mọi nhà “ cho dễ nghe )

 

Tác giả vui xuân thực thụ và hồn nhiên rất phù hợp tâm lư người sơn dă (Bạch Vân Oa)

 

 

 

 

 

09.

癸已除夕偶成
   
(清)黄景仁


千家笑语漏迟迟,忧患潜从物外知,
悄立市桥人不识,一星如月看多时。


TRỪ TỊCH QUƯ TỊ

 

Hoàng  Cảnh Nhân

 

Nhà nhà cười nói, phút giờ qua,

Lo lắng chẳng c̣n vướng bận ta.

Đứng lặng bên cầu không kẻ hỏi,

Măi nh́n sao sáng tựa trăng xa…

 

 

Ngô Văn Lại 吳文赖  dịch và chú thích

Việt Nam, Xuân Mậu

 

Chú thích:

 

Hoàng Cảnh Nhân là nhà thơ có tên tuổi đời Thanh, sinh năm 1749, mất năm 1783.  Ông làm thơ từ năm lên 9 - Giới nghiên cứu tôn ông là thơ nhân xuất sắc thời Càng Long.  Suốt đời sống trong cùng khổ v́ nhà nghèo, thi hỏng.

 

 

 

 

 

 

 

10.

凤城新年辞

(清)查慎行


巧裁幡胜试新罗,画彩描金作闹蛾;
从此剪刀闲一月,闺中针线岁前多。

 

MẤY LỜI ĐẦU NĂM KINH THÀNH

 

Tra Thận Hành

 

( Âm Hán Việt )

 

Xảo tài phiên thắng thí tân la,

Hoạ thái miêu kim tác náo nga;

Ṭng thử tiễn đao nhàn nhất nguyệt,

Khuê trung châm tuyến tuế tiền đa.

 

 

Đôi ḍng trước khi chuyển ngữ:

 

Thời xưa, phái nữ trong dân gian làm lụng suốt năm, chỉ đến khi tết đến mới được nhàn rỗi vui đùa ba ngày xuân.  Bài thơ trên diễn đạt tâm trạng “ăn tết” của họ qua h́nh ảnh bận rộn chuẩn bị trước tết. Họ đă khéo léo kết thêu những đồ trang sức, cắt may quần áo, thử đo, chưng diện…  thể hiện tính “yêu chuộng nét đẹp” của phái nữ mà tạo hoá đă ban cho họ!

 

 

( Chuyển Ngữ )

 

Khéo tay phướn (1) lụa mới trông hay,

Rực rỡ viền tô kết “bướm ngài” (2);

Chiếc kéo từ nay nhàn cả tháng,

Pḥng khuê trước Tết chỉ kim đầy.

 

 

Hàn Quốc Trung 韩国忠  dịch và chú thích

California, Hiệp Chủng Quốc, Xuân Canh Dần

 

Chú thích:

 

Thi sĩ  Tra Thận Hành ( 查慎行 ) (1650 – 1727) người tỉnh Triết Giang ( 浙江 ),  tên thật Tự Liễn ( 嗣琏 ), tự Hạ Trọng ( 夏重 ), hiệu Tha Sơn ( 他山 ) và Sơ Bạch ( 初白 ), sau đổi tên thành Thận Hành ( 慎行 ) và đổi tự thành Hối Dư ( 悔余 ).  B́nh sinh ông làm trên 10000 bài thơ.  Về sau ông biên soạn “Kính Nghiệp Đường Thi Tập” ( 敬业堂诗集 ) và chỉ thu giữ  lại 4600 mấy bài.

 

(1)    Phướn:  Chỉ những mảnh tơ lụa được cắt xén kiểu cọ dùng để kết thắt trên tóc hay làm vật trang sức, quà biếu trong những ngày xuân thời xưa…  Một nhà ái quốc thời Nam Tống đă viết một câu từ với nội dung là “khi thấy những mảnh phướn xuân bay lượn, phất phới trên mái tóc mấy nàng là biết ngay xuân về.”  幡勝: 即彩勝。用金銀箔羅彩制成,為歡慶春日來臨,用作裝飾或饋贈之物。

(2)    Bướm ngài:  Ở đây chỉ loại trang sức bằng tơ lụa hay loại giấy đặc biệt màu đen bóng nhoáng kết thắt trên đầu phái nữ thời xưa và thường có h́nh dạng như hoa, bướm, hay sâu bọ trong hoa cỏ… 闹蛾: 古代一種頭飾。剪絲綢或烏金紙為花或草蟲之形。

 

 

 

 

 

 

11.

甲午元旦

(清)孔尚任


萧疏白发不盈颠,守岁围炉竟废眠。
剪烛催干消夜酒,倾囊分遍买春钱。
听烧爆竹童心在,看换桃符老兴偏。
鼓角梅花添一部,五更欢笑拜新年。

 

 

NGUYÊN ĐÁN GIÁP NGỌ

 

Khổng Thượng Nhâm

 

( Âm Hán Việt )

 

Tiêu sơ bạch phát bất doanh điên,

Thủ tuế vi lô cánh phế miên.

Tiễn chúc thôi can tiêu dạ tửu,

Khuynh nang phân biến mại xuân tiền.

Thính thiêu bạo trúc đồng tâm tại,

Khán hóan đào phù lăo hứng thiên.

Cổ giác mai hoa thiêm nhất bộ,

Ngũ canh hoan tiếu bái tân niên.

 

 

 ( Chuyển Ngữ )

 

Trên đầu tóc đă bạc thưa,

Lửa hồng “thủ tuế” (1) tà ma xa lià.

Gọt tim đèn, (giục) cạn rượu khuya,

 “Xuân tiền” (2) trang sức trút ch́a lẹ mua.

Pháo vang ḷng trẻ y xưa,

Đào phù (3) hóan đổi dạ ưa nghiêng nh́n.

Tù và, trống nổi mai xinh,

Canh năm hớn hở mừng nghinh xuân về

 

 

Hàn Quốc Trung 韩国忠  dịch và chú thích

California, Hiệp Chủng Quốc, Xuân Tân Măo

 

Chú thích:

 

Thi nhân Khổng Thượng Nhâm ( 孔尚任 ) (1648 – 1718) tổ tịch huyện Khúc Phụ ( ),  tỉnh Sơn Đông ( 山东 ),  cùng quê và là cháu nội đời thứ 64 của “Vạn Thế Sư Biểu” Khổng Tử ( 孔子 ),  tự Sính Chi ( 聘之 ), hiệu Đông Đường (东塘 ), tự xưng là Vân Đ́nh Sơn Nhân  ( 云亭山人 ).  Ông để lại cho đời nhiều tác phẩm, trong đó có kỳ truyện lịch sử “Đào Hoa Phiến” ( 桃花扇 ) khá nổi tiếng.

 

(1)    守岁  Thủ tuế:  Phong tục vào đêm giao thừa, người ta thức khuya để “tống cựu nghinh tân” (tiễn đưa năm cũ, đón rước năm mới).  Tục ‘Thủ tuế” quanh ḷ lửa hồng trượng trưng cho ư niệm xua trừ tất cả tà ma, xui xẻo trong năm cũ để mong “vạn sự cát tường” trong năm mới sắp đến.

(2)    春钱   Xuân tiền:  Đồng tiền (token) sử dụng trong những kỷ viện thời xưa.  Chúng c̣n dùng làm quà cho những cặp trai gái (con cháu) đang thời kỳ yêu đương, hay mới kết hôn, với dụng ư tượng trưng chúc cho hạnh phúc.  Ng̣ai ra, c̣n là một lọai “token” dùng làm đồ trang sức cho phái nữ.  Ở đây, tất nhiên, dùng theo nghĩa này.

(3)    桃符  Đào phù:  Xem chú thích (2) trong bài “元旦  Nguyên Đán” (bài số 4 phía trên) của giáo sư Ngô Văn Lại.

 

 

 

 

 

 

 

 

*  中國十大古曲之一﹕梅花三弄  *

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

*** 投稿電子郵件請寄 ***

Bài vở & h́nh ảnh xin gởi về Ban Phụ Trách KHAIMINH.ORG

 

VanNgheGiaiTri@KhaiMinh.org

 

 

 

 

啓明网站  |  Copyright © 2004 - Present  KHAIMINH.ORG  |  Website Disclaimer