VỚI MẤY THI NHÂN

 

PHAN VĂN DẬT    QUÁCH TẤN    XUÂN DIỆU    THANH TỊNH



 

 

 

 

Về t́nh h́nh chung, nhà giáo dạy Văn thường có làm thơ hoặc nhiều hoặc ít, nên họ coi thi nhân như “người cùng phe ta” hoặc như bạn thiết “củ sắn chia hai, con rận cắn đôi” và họ rất thích được thi nhân coi họ cũng như vậy.

 

Với thi nhân, tôi có thái độ duy tŕ khoảng cách “kính nhi viễn chi”, quá lắm cũng chỉ coi họ như khách quen của hàng quán ḿnh, không “bắt quàng làm họ”, không suy tôn, sùng bái ai v́ tôi tự cho rằng ḿnh chưa hiểu chính xác cảm xúc của họ có ăn khớp ǵ với vần điệu của họ thể hiện hay không.

 

Về cảm thụ, tôi chỉ thừa nhận là thi nhân đích thực những người làm thơ bằng cảm xúc chân thành chứ không làm thơ v́ mục đích phục vụ mọi thứ độc giả. V́ vậy tôi chỉ giới hạn sự nh́n nhận của ḿnh đối với những nhà thơ cùng những bài thơ đă được Hoài Thanh “phong thần” qua cuốn Thi Nhân Việt Nam mà bản thân soạn giả đă tự đánh giá và gởi gắm cảm khái qua những câu thơ tuyệt mệnh vừa được lưu truyền gần đây.

 

Vị nghệ thuật nửa cuộc đời,

Nửa đời c̣n lại, Vị … lời cấp trên.

“Thi nhân” c̣n một chút duyên,

Chẳng ǵn cho vững, lại nghiền cho tan.

 

Những ǵ tôi nhắc lại ở đây chỉ là vài liên quan vô thưởng vô phạt với mấy thi nhân được nêu trong sách ấy.

 

 

VỚI PHAN VĂN DẬT

 

Ông với tôi, thật ra chỉ có mối quan hệ  thầy tṛ.

 

Những năm 60 của thế kỷ trước, ông dạy Văn ở hai trường: Trường nữ sinh Đồng Khánh và Viện Hán Học Huế. Ông c̣n là Giám học của nơi này nữa. Ông đă để lại khá nhiều ấn tượng cho tâm hồn tôi.

 

Thứ nhất, ông rất yêu sách và có một trí nhớ ưu việt, lưu giữ trong kư ức rất nhiều thời sự các lĩnh vực. Đó là hai thế mạnh cần thiết của nhà giáo dạy Văn. Các thế mạnh ấy đă thu hút sự ngưỡng mộ của tôi như nam châm hút sắt.

 

Mùa hè năm 1961, tôi cùng một người bạn hy sinh “Chín mươi ngày nhảy nhót ở miền quê” để đến thư viện gia đ́nh của ông nhiều ngày liền chép bằng hết cuốn Việt Nam cổ văn học sử của Nguyễn Đổng Chi. Ông Dật “đánh giá cao” ư chí cần cù ấy của tôi nhưng vẫn nhất quyết không chịu cho tôi mang sách về nhà, bằng không th́ tôi đă rút ngắn được khá nhiều thời gian.

 

Thứ hai, ông là mẫu nhà giáo yêu mến học tṛ thật hết ḷng, khiến cho học tṛ không thể không yêu mến ông tối đa. Hể dạy Đồng Khánh th́ ông nhắc đến tôi không tiếc lời khen và khi dạy ở Viện Hán Học Huế th́ ông làm như vậy với cô nữ sinh họ Bùi trường nọ. Tôi cho rằng nếu không yêu mến tận đáy ḷng th́ chả có ông thầy nào làm như ông.

 

Thứ ba, ông dẫn dắt câu chuyện rất linh hoạt. Người ta gọi đấy là khẩu tài. V́ vậy cứ đến giờ ra chơi là đám nữ sinh Viện Hán Học quây quần quanh ông như nêm. Các cô bá vai nhau nên đám nam sinh chúng tôi chẳng có lối chen vào, mặc dù tôi biết những dịp ấy là cơ hội bổ sung vốn liếng tri thức của tôi mà chiến tranh cùng tù tội đă gây nên vô số ổ gà ổ trâu, san lấp cho xong mớ hang hố nọ tôi cũng c̣n bở hai tai. Và tôi rất cần t́m vật liệu san lấp ở trí nhớ của ông.

 

Một lần tôi mon men đến ṿng ngoài, ông chiếu cố bằng một câu hỏi “chết người”:

 

-         Anh L. ra đây gần được một năm rồi hỉ? Đă đi … ngủ đ̣ lần mô chưa?

 

Tôi dám thách ai t́m được một ông thầy nào có lối hỏi học tṛ như vậy, lại hỏi bằng chiến thuật “đánh vỗ mặt” đối phương nữa chứ! Tôi kêu khổ trong bụng: “Trời đất! Trên đời này bộ hết sạch câu hỏi hay sao? Hỏi cái chi mà “dị hợm” rứa?” Ngủ đ̣ sông Hương th́ trẻ con cũng hiểu là chuyện ǵ và ai cũng biết đó là dịp bản năng phát huy tối đa … công suất thiết kế! Cả nửa ṿng nữ sinh vây quanh ông len lén liếc trộm mặt mũi tôi xem nó đỏ hay tái. Trong số đó, chắc cũng có cô ṭ ṃ, đón chờ câu trả lời của tôi để đánh giá “bản lĩnh đàn ông” của học tṛ trong Quảng ra sao cũng nên?

 

Tôi đáp thủng thẳng:

 

-         Thưa thầy, con ra đây để học mà!

 

Ông cười thật tinh quái:

 

-         Rứa cũng là học đó chớ! Nhà văn cần biết hết mọi mặt cuộc sống. Anh th́ lại càng nên biết!

 

Ông nh́n nhận tôi là “nhà văn” thật là bất ngờ v́ tôi đă tŕnh làng tác phẩm nào đâu? Thật ra đến lúc ấy, tôi chỉ mới cộng tác với tạp chí Bách Khoa vài ba bài chả đáng ǵ, nhưng vấn đề đang bàn là chuyện “ngủ đ̣”, nếu tôi phân trần qua việc khác là đánh trống lảng, làm lạc hướng vấn đề nên lẳng lặng cho qua điều áy náy.

 

Về sau, nhớ lại chuyện đối đáp ấy, tôi nhận ra ḿnh đúng là một anh ngố … có đẳng cấp! Câu trả lời mà ông chờ đợi ở tôi hôm ấy có lẽ là:

 

-         Thưa thầy, ngủ đ̣ th́ con … chưa tính tới, nhưng đă có đọc bài “Bi Xuân Nương” trong Thi Nhân Việt Nam của Hoài Thanh rồi ạ! (Bi Xuân Nương là bài thơ của ông kể lể nỗi buồn “xuân qua hoa tàn” của đời kỹ nữ).

 

Tôi không nắm vững câu hỏi nên đă trả lời nghe lảng nhách! Thật là phụ ḷng người hỏi.

 

Ấn tượng thứ tư ở tôi là ông chấm bài theo một qui ước khá độc đáo. Ông áp dụng lối tán thưởng cổ điển là dùng dấu “ khuyên” (ṿng tṛn) để khen chỗ hay và dấu “điểm” (chấm) để khen chỗ khá. Có lẽ ông là nhà giáo duy nhất chấm văn quốc ngữ theo lối ấy.

 

Tuy tôi giới hạn phần này trong việc dạy học và chấm thi, nhưng nhắc về ông, tôi không hề cảm thấy lạc đề v́ việc dạy học và chấm thi của tôi đă chịu ảnh hưởng ở ông rất nhiều. Nếu trong hai nhiệm vụ ấy tôi có nổi trội hơn ai chút nào chính là do sự bồi dưỡng tri thức và nghiệp vụ của ông.

 

 

VỚI QUÁCH TẤN

 

Nhà thơ Quách Tấn có con trai dạy cùng trường Văn Hóa Quân Đội với tôi nhưng chúng tôi chỉ gặp nhau ở các cuộc họp c̣n thời khóa biểu chênh nhau hoàn toàn. Lân la làm quen để được tiếng là thân thiết với người con nhà thơ lớn, một trong B́nh Định tứ kiệt, vốn không phải là thói quen của tôi.

 

Lớp tôi dạy ở trường Nữ có một học sinh họ Quách (ngày nay tôi vẫn c̣n nhớ đúng tên cô ta và rất tin là do cụ Quách đặt). T́nh cờ tôi nhận ra cô ta khi đến nhà ông nhưng không rơ là con út hay cháu đầu của ông. Những chi tiết vặt vănh ấy làm tôi cảm thấy có chút gần gũi ông hơn đối với những thi nhân khác, nhưng tôi vẫn chỉ “kính nhi viễn chi”. Ông lại có chung sở thích xem phim như tôi, thế cũng tạm gọi là đồng thanh đồng khí cũng được. Thế nhưng do cự ly tuổi tác, ông chủ trương tinh thần “ḥa nhi bất đồng” của đạo người quân tử và tôi cũng thích cách xử sự ấy của ông (dạy trường Nữ mà khoái kết giao với người cao tuổi là ngu tận mạng!)

 

Như đă nhắc ở trên, tôi có đến nhà thi nhân họ Quách một lần duy nhất nhưng không với tư cách bạn yêu thơ ông mà chỉ thủ vai người dẫn đường cho hai giáo sư Phạm Văn Diêu và Lê Hữu Mục, họ từ Sài G̣n ra dạy ở Đại học Duyên Hải, Nha Trang. Cùng đi với họ là hai giáo sư cơ hữu của Viện là Trần Phước Hải và tôi, nhưng Hải và tôi mặc nhiên nhường việc chuyện tṛ cho ba người họ. Té ra giữa ba người ấy chỉ xử sự thật xă giao, nhạt nhẽo theo kiểu “Quân tử chi giao đạm như thủy”. Chẳng có kỷ niệm chung nào về họ hoặc về thời sự văn học được họ gợi lại. Khó thể cho rằng giữa họ có dấu hiệu đồng thanh đồng khí được. Tôi bàn xen vào là nên đi xem phim rạp Tân Tân và các ông đồng tán thành.

 

Trong lúc Hải chen người mua vé, ông Mục lơ đăng nh́n kẻ qua người lại trên đường Độc Lập, tôi bỗng hóa ra “bánh xe thứ năm” chưa nghĩ ra cách giải quyết th́ giờ trống rỗng của ḿnh th́ sau lưng tôi  có tiếng ông Diêu hỏi:

 

-         Nè, về mấy chuyện nớ, hiện ông ra sao?

 

Nhà thơ họ Quách cười lớn:

 

-         Th́ cũng như chuyện ăn uống thôi mà! Cũng biết thơm tho, béo bùi đó, nhưng có c̣n răng cỏ đâu mà nhai?

 

Ông nhấn mạnh tiếng “nhai” bằng giọng thảm năo khiến ông Diêu cười h́ h́. Câu hỏi ṭ ṃ của ông Diêu có lẽ nhằm ư đồ “thu thập tư liệu” để về sau tự kiểm nghiệm nhưng rốt cuộc ông không đủ thời gian. Lúc hỏi câu ấy, ông Diêu mới ở tuổi 43, c̣n nhà thơ trông đă ngoài tuổi 60. Tôi rất muốn quay mặt lại để hỏi Quách tiên sinh về vụ chính quyền Ngô Đ́nh Diệm ngày ấy miễn nhiệm chức Tỉnh trưởng B́nh Định của ông thực hư ra sao, nhưng chuyện xảy ra từ mười lăm năm trước, nhằm cái thời “răng cỏ” của ông hăy c̣n chắc khỏe, chuyện miễn nhiệm có lư do khá nhạy cảm, đă chắc ǵ ông trả lời đúng sự thật cho kẻ hậu sinh, tôi hỏi sỗ sàng như thế e khiếm nhă nên tự bắt ḿnh cất kỹ câu hỏi ṭ ṃ nọ vào ḷng mới là thượng sách.

 

 

VỚI XUÂN DIỆU

 

Ở trường Nữ Nha Trang, t́nh cờ tôi có dạy cô em gái Xuân Diệu. Tính độ chênh của tuổi tác, cô ta thua Xuân Dịêu đến 32 tuổi. Khoảng cách ấy c̣n kém rất xa anh em Nguyễn Khản với Nguyễn Du hay các em Nguyễn Du. Và điều dĩ nhiên cô ta là em khác mẹ. Rất lâu về sau nhân đọc báo tôi mới biết chuyện này, c̣n bấy giờ trong trường có lẽ không ai biết cả. Bằng không, người ta đă … bắt tôi phải biết từ lâu. “Trường Nữ” mà!

 

Năm 1965, cô ta học lớp Tứ 4 (lớp 9 ngày nay). Tên đầy đủ là Ngô Thị Minh Hà, ngồi bàn đầu.

 

Nữ sinh ngồi bàn đầu thường tề chỉnh, nghiêm trang. Minh Hà cũng không ngoại lệ. Trông cô ta khá chững chạc, dự báo về sau có khả năng làm mệnh phụ nếu không gặp chuyện éo le nào. Có điều lạ là tôi có linh cảm một cái ǵ khang khác. Trông cô ta không hồn nhiên, b́nh thường như các bạn cùng lớp, thứ linh cảm ấy rơ quá, gần như một thực trạng khó thể phủ nhận. Rất lâu về sau tôi đọc báo mới biết cô ta là em nhà thơ t́nh số một trên thi đàn Việt Nam. Chẳng rơ trong trường có cô nào khác trùng họ tên ấy không. Thôi cứ cho là 50/50 cũng được.

 

Hồi chưa đi học tiếp, tôi từng theo dơi vụ Nhân Văn Giai Phẩm, biết chuyện cụ Phan Khôi “tố” Xuân Diệu trên giai phẩm nọ là nhà thơ ấy có chân trong Ban giám chấm thơ mà lại chọn thơ ḿnh được giải là việc làm không b́nh thường, quá khó hiểu. Khi vụ án Nhân Văn Giai Phẩm (1957) được xử, nghe tin cụ Phan bị chế tài tàn nhẫn, sổ phân phối nhu yếu phẩm bị thu hồi, cụ Phan bị quản thúc tại gia trong t́nh trạng “hết sử dụng” như các danh tướng Hạ Long, Bành Đức Hoài của Trung Quốc thời ấy. Thần tượng Xuân Dịêu trong tôi đổ sụp, tôi tự khinh ḿnh tàn tệ về tội sùng bái một nhà thơ có tâm địa như thế.

 

Vào thời ấy, tôi đă nghe loáng thoáng rằng Xuân Diệu chỉ “mạnh mồm” anh anh em em trong thơ thế thôi, chứ trong đời thường ông ta chả được… tích sự ǵ! Đọc bài thơ “Xa Cách” của ông, người ta khó tin rằng có t́nh trạng như thế, nhưng Tạo Hóa vốn “đành hanh quá ngán” (Nguyễn Gia Thiều) nên tôi cũng không thể không tin lời đồn đại ấy.

 

Gần đây, cây bút Đặng Vương Hưng công khai nhắc vấn đề này úp úp mở mở trên mặt báo nhưng có vẻ thả nổi chứ không khẳng định thực hư, v́ nhà báo dù sao cũng không có quyền “đá lộn sân’ của y sĩ giám định.

 

Một đồng nghiệp có kể là giáo sư Đặng Thai Mai xe duyên nhà thơ t́nh số một ấy với một nhà thơ nữ tên Thùy, ít lâu sau cô ta tuyên bố đầy ai oán: Tiếng là cụ Mai gả chồng cho cô nhưng ai dè là … cưới vợ! Thực hư ra sao không rơ v́ không thấy có văn bản, chứng từ chính thức nào xác nhận hay phủ nhận!

 

Riêng giáo sư Phạm Văn Diêu lại cung cấp một thông tin trái ngược. Có lần ông này tiết lộ với tôi một chi tiết khá động trời rằng ông chủ nhà xuất bản Tân Việt từng cưu mang nhà thơ nọ một thời gian dài, cuối cùng nhà thơ đă tặng bà chủ một “bầu tâm sự” khiến ông chủ nhà xuất bản nọ nổi đóa thôi quách ḷng mến tài, từ Mạnh Thường Quân ông ta chuyển tông ra … Yếu Thường Quân!

 

 

VỚI THANH TỊNH

 

Là nhà giáo Tiểu Học, Thanh Tịnh có nhiều cơ hội quan sát học tṛ, cộng với tài năng thiên phú, ông trở thành cây bút kiệt xuất về kư ức tuổi thơ và được thiên hạ tặng đanh hiệu Anatole France của Việt Nam. Từ thời Tiểu Học, tôi đă cảm thơ ông, văn ông thấm tận tâm can. Những bài Ṃn Mỏi, Trường Tôi, chắc là tôi sẽ mang theo trong trí nhớ đến tận ngày … lên thiên đàng hay thế giới niết bàn cực lạc (nếu tôi có đến những nơi đó chắc là do nhầm đường!)

 

Tôi ngờ ngợ ông dùng mấy câu này để tự họa chân dung:

 

Thầy tôi tầm thước mảnh và cao,

Đôi mắt long lanh, má nhuộm đào.

Mái tóc hơi quăn, cằm hơi nhọn,

Nụ cười thường lẫn tiếng khao khao…

 

(Trường Tôi)

 

Nếu ông đúng là mẫu người hấp dẫn như vậy mà phần lớn cuộc đời phải cam chịu cảnh ngộ mà ông từng cảm khái là “Ăn cơm tập thể nằm giường cá nhân” th́ quả là phí cho đời!

 

Cứ tưởng tôi chỉ có thể “kính nhi viễn chi” dài dài, ngờ đâu tôi lại có dịp quen biết vợ con ông, nghĩa là thấy ḿnh có chút thân thân với ông.

 

Người con trai ông là Trần Thanh Vệ dạy môn thể dục thể thao Đại Học Duyên Hải. Tôi dạy văn, anh ta dạy vơ. Chưa chắc anh biết đến tôi, thế nhưng nh́n thấy “một chút ǵ của Thanh Tịnh”, đối với tôi cũng là chuyện hay hay, c̣n hơn là không hề thấy chút ǵ! Cũng may là Vệ dạy “vơ” chứ nếu dạy văn mà không có chút tài của Thanh Tịnh th́ gay!

 

Năm 1971, tôi có viết truyện ngắn “Chuyện Người Thầy Cũ” kể về vị thầy tên Thiện dạy chữ Hán vỡ ḷng cho tôi, ông có cuộc sống thật đạm bạc trong cảnh “Cái học nhà Nho đă hỏng rồi” nhưng khi chết ông lại tỏ ra khí tiết sĩ phu “Thà chịu chết chứ không chịu nhục” để nhảy xuống chiếc giếng bên đường khi tên lính com-măng-đô cất tiếng chửi thề vô lễ.

 

Một vị cựu Thượng thư bộ Lễ triều Nguyễn viết thư nặc danh trách tôi là đă đủ sức viết nhiều bài giá trị mà lại bất liêm, đánh cắp bài “Thầy Thiện Của Tôi” do Thanh Tịnh viết bằng tiếng Pháp đăng trên tạp chí Annam Nouveau. Vị cựu Thượng thư nọ chỉ căn cứ sự trùng hợp ngẫu nhiên cái tên Thiện mà vội lên án bất liêm cho tôi, c̣n tôi th́ lại không biết phân trần cùng ai, cũng không có điều kiện kiểm tra đối chứng khiến tôi hơi bực bực nên cảm thấy… hơi ấm ức rằng Thanh Tịnh làm hại tôi! Mặc dù oán như vậy là ngớ ngẩn nhưng lư lẽ th́ ăn thua ǵ khi người ta bực bực?

 

Cũng trong năm ấy, tôi đi chấm thi ở Huế. Một nữ đồng nghiệp trong trường thường ngày vốn ngại chuyện văn với tôi nhưng vào dịp ấy lại tha thiết nhờ tôi t́m cách giúp đỡ cho con trai người bạn cô ta. Nếu đương sự hỏng năm nay th́ khó thể lưu ban v́ trúng nhằm tuổi quân dịch.

 

Nhận mảnh giấy ghi địa chỉ cô ta trao, tôi c̣n nhận kèm lời thông báo đáng giá “Mẹ hắn là vợ cũ của Thanh Tịnh đó!”

 

Ra Huế, tôi t́m đến nơi mà tôi đă hào hiệp nhận lời gởi gắm. “Vợ cũ” của ông Đại tá nhà văn nọ đă có con đến tuổi đi thi Tú Tài, nếu cộng với một tuổi nằm trong thai nữa vị chi bà này đă chia tay ông Thanh Tịnh khá sớm. Nếu vậy, sao ông ta vẫn “nằm giường cá nhân”?. Một nhân vật có “thương hiệu uy tín” như ông mà Nhà Nước lơ là việc gán ghép hay sao? Có ǵ bí hiểm ở đây nhỉ? Liệu đây có phải là con riêng của chồng sau không? Tôi không có quyền “nhảy xổ” vào đời tư bà bạn thân người đồng nghiệp đồng sở của tôi được! Đành cất kỹ chút nghi vấn quí giá nọ.

 

Tôi đến một ngôi nhà rất cổ kính và khá thanh u ở đường Trung Bộ, thành phố Huế. Tôi rất thèm ngắm nghía đầy đủ khu vườn mang phong cách viên lâm nhà quan ấy nhưng chủ nhân lại không mời v́ đang chú trọng việc trước mắt. Chủ nhà té ra là một bà Đại Tá. Có nghĩa là bà ta đánh đổi cái lon gắn sao vàng lấy cái lon gắn hoa mai bạc. Chuyện đời ngộ nghĩnh đến thế là cùng! Có lẽ bà không đời nào đoán ra điều tôi nghĩ. Đôi bên tự giới thiệu mấy câu. Chờ tôi uống xong tách trà ngon, bà ta hỏi:

 

-         Thầy trọ ở mô hỉ?

-         Tôi ở chung với anh em tại Quốc Học.

-         Đang mùa oi bức, thầy chịu răng nổi?

-         Không sao đâu ạ!

-         Để tôi thuê cho thầy chiếc đ̣, ngủ cho mát nhé! Tui sẽ biểu tài xế đem xe đưa đón thầy đi lại cho tiện nhé!

 

Nói chung là bà ta chiều chuộng kẻ sắp “cấp cứu” con bà. Th́ ra năm trước cu cậu đă hỏng một keo và có lẽ bà bị ông chồng sĩ quan nọ qui trách nhiệm nặng nề, nay mang mặc cảm của bệnh nhân, cứ gặp được thầy thuốc là tin ngay bệnh sẽ khỏi, trong khi giúp đỡ con bà là việc khá nhiêu khê, xác suất thành công rất nhỏ. Nếu “cậu ấm” hỏng đại keo nữa th́ đ̣, th́ xe mới ra sao đây? Đời nào tôi dám dại dột tận dụng sự ân cần niềm nở ấy? Thế nhưng tôi bày tỏ nổi e ngại của ḿnh vào lúc này lại dễ làm bà hiểu nhầm rằng tôi chưa vận dụng đủ nhiệt t́nh. Thật là tiến thoái lưỡng nan.

 

Tôi giải thích:

 

-         Bà quan tâm như vậy, tôi rất cảm kích, nhưng tôi đang ở chung trong Hội Đồng, tách riêng ra như vậy không khỏi có kẻ dị nghị, rất bất lợi cho công việc bà cần ở tôi. Xin bà hiểu cho ạ!

-         Khó thiệt hỉ? Tùy thầy vậy.

 

Xét ra với bốn nhà thơ kể trên, tôi vừa tiếp cận vừa “kính viễn”, trông thật vô thưởng vô phạt. Với họ, tôi chả là cái ǵ cả, nhưng với tôi, họ được tôi coi trọng hơn các danh nhân lịch sử v́ “Văn hóa là cái c̣n lại khi tất cả đă mất đi”. (Tôi rất tâm đắc quan niệm ấy được Đặng Thai Mai nêu trong sách Việt Nam Văn Hóa Sử Cương của ông mà tôi đọc mê mải từ thời c̣n ngồi ghế học tṛ). Bốn nhà thơ ấy tôi coi là những nhà văn hóa đích thực, tôi thích họ, trọng họ, dành cho họ những vị trí danh dự trong tâm hồn ḿnh. V́ vậy, một vài kỷ niệm nhỏ nhặt, có liên quan mong manh với họ cũng là “những chiếc gối êm ái cho tuổi già” của tôi, như cách nói của một nhà văn Pháp.

 

 

 

Giáo Sư Ngô Văn Lại  吳文賴老師

Đà Nẵng, Việt Nam, 2012

 

 

 

 

 

 

请阅读吳文赖老师佳作 * Xin mời đọc một số tác phẩm cuả Giáo Sư Ngô Văn Lại.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

*** 投稿電子郵件請寄 ***

Bài vở & h́nh ảnh xin gởi về Ban Phụ Trách KHAIMINH.ORG

 

VanNgheGiaiTri@KhaiMinh.org

 

 

 

 

 啓明网站  |  Copyright © 2012  KHAIMINH.ORG  |  Website Disclaimer