|
NỘI
DUNG LỜI KỂ
1.
Từ
khi bà con đồng hương Hải Nam sang giao
thương buôn bán và lập nghiệp tại Chợ Mới,
lúc bấy giờ Chợ Mới là một đô thị
lớn của Tỉnh Khánh Ḥa, tàu chuyền từ Hải
Nam, Trung Quốc sang đây buôn bán tấp nập trên
đường vượt biển đă được
Thiên Hậu Thánh Mẫu pḥ độ nên đă đến
nới an ṭan, buôn bán phát đạt. Vào năm Đinh Dậu
( 1837 ) bà con đồng hương Hải Nam kiến
nghị vận động quyên góp tiền mua đất
để xây Miếu để có nơi thờ phụng,
cúng bái Bà.
Ban
vận động được thành lập gồm
các ông:
-
Ngô
Thạnh Phan
-
Phan
Hữu Thanh
-
Hàn
Thư Chuẩn
-
Phùng
Tùng Kiệt
Ban sáng lập
gồm các ông:
-
Ngô
Thạnh Phan
-
Phan
Hữu Thanh
-
Hàn
Thư Chuẩn
-
Phùng
Tùng Kiệt
Ban trợ
lư gồm các ông:
-
Lũ
Hoa Mậu
-
Sử
Học Thuần
-
Ngô
Tế Tề
-
Phan
Đại Chánh
Ban thanh
lư gồm các ông:
-
Phan
Hữu Phong
-
Diệp
Trạch Nhuận
-
Tạ
Gia Cước
-
Diệp
Hưng Hoa
-
Phan
Hữu Thanh
-
Diệp
Triều Hoa
(Theo
văn bia ghi lại th́ Bà Hàn Thị Lài là người
đóng góp hơn 1.000 quan để mua đất
và xây dựng Miếu. Bà có chồng nhưng không có con,
khi c̣n sinh thời Bà có ước nguyện khi chết
được chôn cất ngay trong đất của
Miếu. Thực hiện lời ước của Bà,
Mộ của Bà được chôn cất phía sau Miếu
và được lập bàn thờ trang trọng bên cạnh
Miếu Bà Thiên Hậu Thánh Mẫu.)
Đến
năm Hàm Phong nguyên niên tức năm 1851 (
Tân hợi ) th́ Miếu xây dựng ḥan tất và tiến
hành làm các nghi lễ đưa Bà vào thờ tự.
2.
Năm
1992 có trùng tu lại Miếu chủ yếu thay ngói
đă mục nát.
3.
Các
nhân vật được thờ trong Miếu:
Giữa chính
điện là khám thờ Thiên Hậu Thánh Mẫu.
Thiên
Hậu Thánh Mẫu sử tích: ( được treo
trang trọng ở cữa chính điện, một bên
chữ Việt, một bên chữ Hoa )
Thiên Hậu
Thánh Mẫu là phong hiệu sắc tứ của Ḥang
Triều thời xưa, thông thường đều
xưng là Mẹ Tổ, nhân sỹ Việt ( Quảng Đông ) Phủ th́ đều
xưng là “A Bà” Từ những sử liệu về Mẹ
Tổ tập hợp lại, mà chứng thực rơ ràng
rằng Mẹ Tổ là Thần Tiên đạo giáo phái
Tích Thiện kim phái phù lục ( bùa chú ). Bà là hiếu nữ
( con gái có hiếu ), nguyên quán trên
đảo Châu My, Phủ Hưng Hóa, Tỉnh Phúc Kiến.
Tổ tiên bà từ Triều Đường về sau
đời đời là hiển vinh, phú quư, văn
chương nức tiếng họ Lâm, quan đến
tuần kiểm. Mẹ bà họ Vương, Mẹ Tổ là con gái thứ
sáu nhà họ Lâm, sinh năm Kiến Long thứ nhất
vua Tống Thái Tổ, vào ngày 23 tháng 3 năm Canh Thân tức
năm 960. Năm đó Tống Triệu Khương dận
phế vua Cung Đế nhà Hậu Châu để tự
lên ngôi, nhà hậu Châu mất.
Mẹ Tổ
thăng hóa năm thứ tư Tống Ung Hy vào ngày 9
tháng 9 năm Đinh Hợi tức năm 987 công nguyên,
sống trên đời chỉ hai mươi tám năm
là trinh nữ chưa chồng. Theo sách sử ghi chép th́
gọi là Mẹ Tổ vào ngày Trùng cửu “mùng 9 tháng 9”
năm Đinh Hợi Bà cùng các chị lên cao vào núi Mi
Phong, lúc đó dừơng như nghe tiếng trên không
trung nổi lên tiếng đàn, tiếng sáo, bát âm ḥa tấu,
ngước nh́n lên thấy xe loan phủ mui xanh, cờ
xướng nghênh ngang rầm rập kéo tới. Mẹ
Tổ cưỡi mây tiến lên, chúng dân tất cả
sụt sùi kinh dị, trong khỏanh khắc mây ngũ sắc
kéo đến không c̣n nh́n thấy nữa. Đó là truyền
thuyết về câu chuyện thần thọai, thật
có chuyện đó hay không c̣n phải đợi các sử
gia khảo chứng, chẳng qua là ghi chép lại một
câu chuyện đă lưu truyền trong sử sách mà
thôi.
( Sao lại
từ Cung Thiên Hậu Hội Quán Phúc Kiến tại Hội
An )
Nha Trang,
ngày 31 tháng 5 năm 2002
Người
dịch: Bùi Hữu Hồng
Theo học giả Vương Hồng Sển
th́ Bà có tên là My Châu, thuộc Bồ Dương ( Phước
Kiến)
Bà sinh ngày 23 tháng 3 năm Giáp Thân ( 1044
), đời vua Tống Nhân Tông. Sau đó tám tuổi Bà
biết đọc, mười một tuổi Bà tu
theo Phật giáo. Mười ba tuổi, Bà thọ lănh
thiên thơ: Thần Vơ Y xuống cho một bộ “ Nguyên vị bí quyết” và Bà t́m
được dưới giếng lạn một xấp
cổ thư khác, rồi coi theo đó mà luyện tập
đắc đạo.
Một
lần, cha Bà tên là Lâm Tích Khánh ngồi thuyền cùng hai
trai ( anh của Bà ), chở
muối
đi bán Tỉnh Giang Tây, giữa đường thuyền
lâm băo lớn, lúc đó Bà đang ngồi dệt vải
cạnh mẹ nhưng xuất
thần để đi cứu cha và hai anh. Bà dùng
răng cắn được chéo áo của cha, hai tay nắm
hai anh, giữa lúc đó mẹ kêu gọi Bà và ép bà trả
lời, Bà vừa hé môi trả lời th́ sóng cuốn
cha đi mất dạng, chỉ cứu được
hai anh. Từ đó mỗi khi tàu thuyền ng̣ai biển
khơi gặp nạn th́ người ta thường cúng vái
đến Bà và cầu xin cho bà pḥ độ. Năm
Canh Dần ( 1110 ) nhà Tống sắc
phong cho Bà là “Thiên Hậu
Thánh Mẫu”. V́
sự linh thiên đó mà bà con người Hoa nói chung và
người Hải Nam nói riêng rất tôn
kính Bà và Bà được đưa vào thờ ngay sau
khi xây dựng xong Miếu.
Bên phải
chính điện là khám thờ Ngài Tài Bạch tinh tức
Ông Thần Tài:
Theo
truyền thuyết th́ ông này rất phúc hậu, là một
ông cụ mặt trắng râu dài mặc áo
bông
thắt lưng ngọc, tay cầm thỏi vàng, tay phải
cầm cuộn sớ viết CHIÊU TÀI TIẾN BẢO,
mặt giống như PHÚ GIA ÔNG. Tương truyền
ông là SAO THAI BẠCH trên trời, thuộc KIM THẦN,
chức vụ của ông trên trời là :
ĐÔ THIÊN CHÍ PHÚ TÀI BẠCH TINH QUÂN, chuyên quản kim
ngân, tiền tài, cho nên rất nhiều người cầu
tài tôn sùng ông. Trong quan niệm nhân gian của người
xưa cho rằng Thần Tài là vị Thần chuyên quản
tài phúc của thiên hạ. Nhận được sự
chiếu cố, giúp đỡ của ông, nhất định
sẽ tài nguyên quảng tiến. Cho nên bà con thường
đặt tượng thờ trong nhà để cầu
mong tài lộc.
Bên trái chính
điện là khám thờ Ngài Phúc Đức Chính Thần
tứ Ngài Thần Đất.
Theo truyền
thuyết th́ Phước Đức Chính Thần họ
Trương tên Phước Đức sanh vào ngày mùng
hai tháng hai ( âm lịch ) đời
nhà Chu Vũ Vương năm
thứ hai. Từ nhỏ, tỏ ra rất thông minh và hiếu
thảo. Đến năm 36 tuổi, làm quan thâu thuế
của Triều đ́nh. Ông rất liêm chính,
thương xót bá tánh khổ sở, nên đă tâu xin giảm
nhiều hạng mục thuế vụm dân chúng rất
sùng kính. Đến năm thứ ba đời Chu Mục
Vương th́ từ trần, thọ một trăm lẻ
hai tuổi. Chết đă ba ngày mà không đổi sắc,
có một nhà nghèo kia đem bốn tảng đá lớn
xây thành ngôi nhà bằng đá để thờ phụng
ông. Chẳng bao lâu sau, nhà nghèo kia trở nên giàu có. Mọi
người tin rằng do thần ân độ tŕ, nên
chung tiền mà xây Miếu thờ, lễ lạy kim thân
Ngài. Những người buôn bán thường đến
cúng bái, được Ngài gia hộ gặp nhiều
may mắn. Vị quan thâu thuế thấy Ngài rất
tham lam, bóc lột nhân dân thậm tệ, ai nấy rất
óan giận. Do đó, người ta tưởng nhớ
đến ḷng tốt của ông Trương Phước
Đức thêm nhiều, và Miếu thờ Ngài trở
thành Miếu thờ “Phước Đức Chính Thần”.
Ngày nay
tuy xă hội có nhiều tiến bộ về khoa học,
nhưng niềm tin vể Thổ Địa Công vẫn
không mất… đâu đâu cũng thấy có sự hiện
diện của Thổ Địa Công. Bởi v́ Ngài là
Phước Thần, Tài Thần mang lại sự phồn
vinh giàu có cho mọi người, niềm tin về Ngài
có lẽ măi măi không bao giờ mất.
Hằng
năm vào ngày mùng hai tháng hai
âm lịch ( xuân kỳ ) và ngày rằm tháng tám âm
lịch
( thu kỳ )bà con thường cúng tế Thổ Địa
Công để cảm tạ ân đức của Ngài.
Ngày
vía chính thức của Ngài Phước Đức Chính
Thần là ngày mùng hai tháng hai âm
lịch
hằng năm.
4.
Trong
quá tŕnh khai phá đất đai, dựng làng lập ấp
diễn ra như sau: Vào năm Đinh Dậu ( 1837 ) khi bà con người Hoa gốc Hải
Nam
đến đây giao thương buôn bán th́ vùng đất
này dân cư thưa thớt. Vùng đất có cổ Miếu
xưa kia là vùng đất hoan vắng không có người
ở trước mắt Miếu là sông, sau cũng
sông. Tên gọi địa danh này xưa kia là Xă Vĩnh
Điềm, Xứ Đông An ngày nay là Tổ 2, Vĩnh
Điềm, Phường Ngọc Hiệp, Thành Phố
Nha Trang và tên gọi này được giữ măi cho
đến ngày nay.
Hiện
nay tính pháp lư đă được pháp luật Việt
Nam công nhận là Di tích văn hóa cấp tỉnh, và cấp
sổ chủ quyền đất đai rộng gần
10.000 m2. Các nhiệm kỳ
Ban quản lư đă có công bảo vệ và tôn tạo
để có được một ngôi Miếu mang
đậm bản sắc của người Hải
Nam, Trung Hoa cổ, đây là niệm tự hào không chỉ
cho những người Hoa gốc Hải Nam c̣n lại
trong nước mà cho tất cả những người
Hoa gốc Hải Nam trước đây ở Nha Trang
hiện nay định cư ở nước ngoài.
Các lễ hội truyền
thống tổ chức trong Miếu
Ngày
23 tháng 3 ( âm lịch ) hằng năm là ngày lễ hội
chính của Miếu là ngày sinh của Thiên Hậu Thánh Mẫu
và lễ hội diễn ra trong nửa ngày bà con đồng
hương Hải Nam trong nước và ngoại quốc
về dự đông đủ, kể cả người
Việt trong nước.
Ng̣ai
ra Miếu c̣n có các ngày vía và đón giao thừa năm mới,
cụ thể như:
-
Đêm
giao thừa, Ban quản lư đến rất sớm
để thượng nhan cầu nguyện cho Quốc
thái Dân an, chuẩn bị bánh trái, quà lộc để
bà con về cúng bái hưởng lộc và đón giao thừa.
-
Ngày
mùng 2 tháng 2 ( âm lịch) là vía ông Phúc
Đức Chính Thần tức ông Thần Đất.
-
Ngày
Thanh Minh làm vệ sinh ở nghĩa địa Hải
Nam, sắm hoa quả, chè xôi cúng ở nghĩa địa
Hải Nam, phường Vĩnh Hải, thành phố Nha
Trang nhằm tưởng nhớ đến người
quá cố; nghĩa địa này có hơn 400 ngôi mộ
người Hoa gốc Hải Nam nằm tại
đây.
-
Ngày
mùng 5 tháng 5 ( âm lịch ) Tết
Đoan Ngọ : Cúng chay. Bánh ú, chè xôi.
-
Ngày
rằm tháng 7 ( âm lịch ) mời các thầy về tụng kinh
cầu siêu ở nghĩa tự và nghĩa địa Hải
Nam, Phường Vĩnh Hải, Nha Trang.
-
Ngày
rằm tháng 8 ( âm lịch ) là ngày Tết
Trung Thu cúng bánh Trung Thu và cũng là ngày vía của Ngài
Phước Đức Chính Thần ( tức ông Thổ
Thần).
-
Ngày
09 tháng 9 ( âm lịch ) là ngày hóa thân của Thiên Hậu Thánh Mẫu, Miếu
tổ chức cúng chè và mở cữa để bà con Hải
Nam, Phước Triều về cúng bái, dâng
hương.
-
Ngày
Đông Chí Miếu
tổ chức cúng chè xôi.
-
Ngày
rằm, mùng một ( âm lịch ) hằng
tháng bà con đồng hương về Miếu dâng
hương cúng bái cầu cho gia đạo b́nh an, sau
đó họp mặt thăm hỏi nhau.
Nghi
lễ cúng tế ngày vía Thiên Hậu Thánh Mẫu diễn
ra vào ngày 23 tháng 3 âm lịch.
Lễ
vật cúng tế ngày vía Bà chế biến đặt
trưng theo tập quán của người Hoa gốc Hải
Nam:
-
Heo
quay, bánh hỏi
-
Thịt
dê
-
Thịt
gà, cơm
-
Canh
bún tàu
Lễ
vía Bà được tiến hành trang trọng như
sau, tất cả các thành viên trong ban quản lư mặc
đồng phục và cùng tham gia cử hành lễ
Trưởng ban Quản lư làm chánh tế, cử 02
người trong Ban quản lư làm bồi tế và đội
sớ. Tất cả các thành viên trong Ban quản lư
đồng dâng hương, chính tế đọc chúc
văn ( kèm theo đây chúc văn bằng
tiếng Hoa) đồng thời chuông trống
được thúc liên hồi. Sau khi cử hành lễ
xong, bà con tiến hành dâng hương cầu nguyện
cho Bà ban mọi điều may mắn b́nh an cho gia đạo. Sau đó Ban quản
lư mời bà con tham gia buổi tiệc mặn.
Miếu
Bà Thiên Hậu Thánh Mẫu Hải Nam không có tục tổ
chức các tṛ chơi dân gian và hát bộ.
Sưu tập
và biên soạn
Hàng
Quốc Định 韓国定
Nha Trang, Việt
Nam,
2011
|